Phòng Công nghệ tế bào thực vật

  • Địa chỉ: Phòng 203 - 211, Nhà A10
  • Trưởng phòng: PGS. TS. Chu Hoàng Hà
  • Điện thoại: 04 37562790     Fax: 04 38363144    
  • E-mail: chuhoangha@ibt.ac.vn
  • Phó Trưởng phòng: PGS.TS. Phạm Bích Ngọc
    • Điện thoại: 04 37562368    Fax: 04 38363144    
    • E-mail: pbngoc@ibt.ac.vn
anhchung

Phòng Công nghệ tế bào thực vật được ra đời cùng với sự thành lập Viện Công nghệ sinh học năm 1993. Tiền thân của phòng CNTBTV là Tổ nuôi cấy mô được thành lập từ những năm 1975, sau đó phát triển thành Phòng Nuôi cấy mô tế bào thực vật năm 1987 trong phạm vi hoạt động của Viện Sinh vật học trước đó. Dưới đây là tóm lược các giai đoạn phát triển, nhân sự và một số nét chính trong các giai đoạn:

Trước năm 1975, những cán bộ đầu tiên có ý tưởng xây dựng phòng thí nghiệm nuôi cấy mô tế bào thực vật như Nguyễn Văn Uyển, Lê Thị Xuân, Lê Văn Cát bắt đầu những thí nghiệm nuôi cấy mô sẹo lúa và bao phấn và protoplast thuốc lá. Có lẽ kết quả chưa đủ chín muồi nên không tìm thấy những công bố này trên các tạp chí khoa học lúc bấy giờ.

Năm 1975 Phân viện Khoa học Việt Nam được thành lập tại thành phố Hồ Chí Minh, anh Nguyễn Văn Uyển chuyển vào đó công tác, tại đây anh cùng các đồng nghiệp khác đã xây dựng Viện Sinh học nhiệt đới trong đó các phòng thí nghiệm về nuôi cấy mô tế bào thức vật không những chỉ phát triển tại TP. Hồ Chí Minh, mà còn ở các địa phương khác, trong đó đáng kể nhất là tại Đà Lạt. Phát huy thuận lợi về khí hậu tại đây Nguyễn Văn Uyển đã thành công trong việc triển khai nhân giống in vitro cây khoai tây bằng những phòng thí nghiệm gia đình và sản xuất cây khoai tây giống trong bầu bằng kỹ thuật luống mạ khoai tây. Thành công này được ghi nhận trong hội thảo quốc tế “Adapted Propagation Techniques for Commercial Crops of the Tropics”, Đà Lạt (1992). Viện Khoa học Việt Nam yêu cầu đơn vị ngoài Bắc tiến hành tìm địa điểm và triển khai kỹ thuật nhân giống khoai tây cấy mô cho vùng đồng bằng Bắc Bộ. Công việc do Lê Trần Bình vừa tốt nghiệp phó tiến sỹ từ Đức trở về chủ trì. Cũng nhờ cơ duyên này mà Trạm xá của Thị trấn Tam Đảo trở thành Trạm NC Khoai tây của Viện Sinh vật học từ đó đến tận bây giờ, việc này là do ông Lê Huy Ngọ, lúc đó là Phó chủ tịch tỉnh, kiêm Trưởng ty Nông nghiệp Vĩnh Phú giúp mà thành.

Ở phía Bắc, năm 1977 GS. Galston, một chuyên gia về vai trò của polyamin trong nuôi cấy mô, sang thăm Viện Khoa học Việt Nam và đã giúp Viện Sinh vật học triển khai PTN nuôi cấy mô và tế bào thực vật tại tầng 3 nhà 02. Lúc này phòng thí nghiệm còn chưa có một chiêc box cấy nghiêm chỉnh, mà phải dùng box tự đóng, phun formon rồi thò tay vào mà cấy.

Chị Lê Thị Xuân là người xuất ngoại sớm, nhiều năm làm việc ở Trung tâm Sinh học Szeged, Hungari, rồi ở Viện NC cây trồng và di truyền Gatersleben, Đức về protoplast thuốc lá và đột biến thiếu nitrate reductase. Trong thời gian đó, chị là người bảo vệ thành công luận án phó tiến sỹ tại phòng thí nghiệm nuôi cấy mô ở trong nước. Sau đó chị tiến hành triển khai nuôi cấy cây thuốc, trong đó có sâm, có thông đỏ và đã mở ra được đề án hợp tác với Đại học tổng hợp Illinois, Chicago về da dạng sinh học và phát triển sinh khối cây dược liệu vườn quốc gia Cúc Phương. Trong những năm cuối trong sự nghiệp, chị đã có đóng góp lớn giúp Vườn Quốc gia Cúc Phương xây dựng được phòng nuôi cấy mô để lưu giữ và cứu hộ các loài Phong lan ở đó.

Vào thời điểm này tổ nuôi cấy mô đã có thêm những lực lượng mới tốt nghiệp, từ nước ngoài như Đỗ Năng Vịnh, Nguyễn Đức Thành, từ trong nước như Nghiêm Như Vân cho phép hình thành những nhóm khác nhau: Nhóm của Lê Thị Muội, sau khi đi thực tập ngắn hạn về nuôi cấy protoplast ở phòng thí nghiệm của Viện sỹ thông tấn Viện HLKH Liên xô GS. Butenko, Viện Sinh lý thực vật đã cùng Nguyễn Đức Thành triển khai nội dung nghiên cứu di truyền lục lạp về sau phát triển thành Phòng Di truyền tế bào thực vật của Viện Công nghệ sinh học. Một nội dung khác do Đỗ Năng Vịnh theo đuổi, đó kỹ thuật nuôi cấy đơn bội ở lúa, về sau anh Vịnh chuyển sang Phòng Di truyền của Viện Sinh vật học, rồi Viện Di truyền nông nghiệp của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, tập trung xây dựng bộ môn nuôi cấy mô tế bào thực vật bên đó lớn mạnh. Khi thành Phó viện trưởng đã làm chủ nhiệm đề án Phòng thí nghiệm trọng điểm về công nghệ tế bào thực vật.

Giai đoạn những năm 80 cũng là giai đoạn thế hệ cán bộ nghiên cứu thứ hai như Trần Thanh Thu, Hoàng Kim Oanh, Từ Duy Thắng, Đinh Thị Phòng về công tác tại phòng.
Năm 1987 khi chị Lê Thị Muội bảo vệ thành công luận án Tiến sỹ khoa học từ Liên Xô trở về Phòng thí nghiệm Nuôi cấy mô tế bào thức vật mới chính thức được thành lập, mở ra một trang mới cho sự phát triển đến ngày nay. Năm 1993 chị Lê Thị Muội trở thành viện Trưởng và Lê Trần Binh đảm nhận vị trí Viện phó viện CNSH và phòng CNTBTV được chính thức thành lập. Năm 1998 anh Lê Trần Bình nhận chức vụ Viện Trưởng Viện CNSH. Từ giai đoạn này bên cạnh các hướng nghiên cứu công nghệ tế bào truyền thống, phòng CNTBTV phát triển thêm các lĩnh vực nghiên cứu mới theo hướng sinh học phân tử như ứng dụng chỉ thị phân tử trong chọn giống, nghiên cứu tạo cây trồng chuyển gen…

Thế hệ cán bộ thứ 3 của phòng mà đầu tiên là Chu Hoàng Hà, Lê Xuân Đắc, Lê Văn Sơn (1992-1993) và sau đó là Lâm Đại Nhân (1997), Nguyễn Trung Nam (1998), Phạm Bích Ngọc, Nguyễn Phương Thảo (1999), Lê Quỳnh Liên, Nguyễn Hữu Cường (2000), Trần Mỹ Linh (2001) lần lượt được nhận về làm việc tại phòng. Cũng trong thời gian này vào năm 1993, trong quá trình tổ chức lại và thành lập viện CNSH, phòng Di truyền thuộc viện Sinh vật học trước đó được sát nhập với phòng CNTBTV và một số cán bộ phòng Di truyền cũ trong đó có Đào Việt Bắc, Bùi Chi Lăng, Nguyễn Tường Vân ra nhập phòng CNTBTV. Đây cũng là giai đoạn mà một số lượng lớn các cán bộ của phòng được gửi đi học tập và nghiên cứu tại nước ngoài. Đặc biệt qua chương trình hợp tác đào tạo với CHLB Đức (DE) giữa Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học quốc gia Hà Nội, Viện Công nghệ sinh học, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam và Trường Đại học tổng hợp Greifswald, Đức, do Lê Trần Bình làm đại diện cho phía Việt Nam, một thế hệ các cán bộ trẻ đã có điều kiện được đào tạo tại các phòng thí nghiệm nổi tiếng của CHLB Đức.

Năm 2004, Chu Hoàng Hà sau khi hoàn thành tiến sĩ và postdoc tại CHLB Đức trở về làm việc và sau đó năm 2005 đảm nhận vị trí Phó phòng đã tiếp tục phát triển hướng nghiên cứu sinh học phân tử và công nghệ gen. Lần lượt trong những năm sau: 2006: Lê Văn Sơn, Nguyễn Trung Nam, 2007: Lê Quỳnh Liên, Nguyễn Hữu Cường, 2008: Nguyễn Phương Thảo, Trần Mỹ Linh, Nguyễn Tường Vân nhận học vị tiến sĩ tại nước ngoài trở về công tác tại phòng. Đến hiện nay có thể nói phòng CNTBTV đã phát triển sang thế hệ cán bộ nghiên cứu thứ tư với nhiều cán bộ trẻ được trang bị kiến thức tốt, hăng say làm việc và sẽ là nguồn nhân lực đảm bảo sự phát triển không ngừng của Phòng. Tại thời điểm hiện tại năm 2008 Phòng CNTBTV có 32 cán bộ (biên chế: 16, hợp đồng: 16) gồm 1 GS. TS., 9 TS., 5 thạc sĩ, 9 cử nhân, 4 kỹ sư, 2 trung cấp, 2 KTV.

Một số kết quả đào tạo, chuyển giao công nghệ

Đã đào tạo: 13 Tiến sĩ, 18 Thạc sĩ, 60 Cử nhân. Hiện có 8 NCS; 17 Học viên cao học và 10 Cử nhân đang thực hiện Luận án, Luận văn, khóa luận tại phòng.

Đã gửi 15 lượt cán bộ đi thực tập dài hạn, đào tạo tiến sĩ tại nước ngoài, cho đến nay đã có 9 cán bộ của phòng nhận học vị tiến sĩ tại nước ngoài và trở về phòng làm việc. Ngoài ra, phòng CNTBTV cũng đã gửi hàng chục lượt cán bộ đi thực tập ngắn và trung hạn ở các nước: Mỹ, Nhật, Đức, Australia, Bỉ, Ấn Độ, Pháp.

Các cán bộ của phòng CNTBTV tham gia giảng dạy đại học và sau đại học tại nhiều cơ sở đào tạo: Trường Đại học Công nghệ, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐH Quốc gia Hà Nội, Trường Đại học Lâm Nghiệp, Đại học Vinh, Đại học Thái Nguyên, Đại học Hồng Đức, Thanh Hóa, Cơ sở đào tạo Cao học Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật và Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam.